TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHẾ PHẨM HỮU CƠ SINH HỌC VI SINH: SUPER VI SINH

Trichoderma_Bacillus_Visinhvat

     Đất là nền tảng để cây trồng sinh sống và phát triển. Đất có phì nhiêu, màu mỡ thì cây trồng mới phát triển tốt và cho năng suất cao. Đất màu mỡ phì nhiêu là đất phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố về hữu cơ, khoáng chất, độ ẩm…và hệ vi sinh vật có lợi đang hoạt động mạnh trong đất, chúng giúp chuyển hóa chất hữu cơ và cố định nitơ tự nhiên, phân giải phosphate và kali trong đất từ dạng khó tan thành dạng dễ tan để cây trồng hấp thụ, chúng giúp phân hủy Cadimi, Paclo và các độc tố khác trong đất và chúng tổng hợp các phytohormone làm tăng sự sẵn có của các chất dinh dưỡng cho cây trồng. Ngoài ra,Vi sinh vật có lợi còn đóng vai trò như những chiến binh bảo vệ, chúng tấn công hoặc tổng hợp các hoạt chất kháng lại Tuyến trùng, Phytopthora, Fusarium, và các loài nấm khuẩn hại là tác nhân chính gây ra các bệnh: thối lở cổ rễ, chết héo xanh, chết nhanh chết chậm, vàng lá thối rễ, cháy lá, khô cành, nứt thân xì mủ, úng thối trái,…

     Tuy nhiên, do nhu cầu gia tăng năng suất nên người nông dân chúng ta đã lạm dụng nhiều chất hóa học vào việc chăm sóc cây trồng trong một thời gian dài, các chất học đã và đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của đất, làm giảm đi sự sinh trưởng và phát phát triển của Tập đoàn vi sinh vật có lợi. Từ đó làm cho đất trồng bị tồn lưu nhiều độc tố hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng, chúng cho làm đất bị thoái hóa bạc màu, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài Vi sinh vật có hại phát triển mạnh, dẫn đến cây trồng thường xuyên bị mất cân bằng dinh dưỡng, mất sức đề kháng nên thường xuyên bị sâu bệnh hại, làm suy cây, chết cây, giảm năng suất, giảm chất lượng nông sản, nông sản bị nhiễm chất độc hại và làm tăng chi phí đầu tư cho nhà nông.

GIẢI PHÁP CỦA NỀN NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI – AN TOÀN – BỀN VỮNG

     * Xu hướng của nền nông nghiệp hiện đại là ứng dụng các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật, chúng ta cần áp dụng thường xuyên công nghệ sinh học vào việc chăm sóc cây trồng, trong đó công nghệ vi sinh là nền tảng. Vi sinh vật là những cơ thể nhỏ bé không thể nhìn bằng mắt thường mà phải quan sát chúng dưới kính hiển vi với sự phóng đại vài trăm lần nhưng hoạt động sống và tạo sinh khối của chúng thì rất lớn, thậm chí chúng được các nhà khoa học ví như những nhà máy công nghiệp tí hon.

VAI TRÒ CỦA VI SINH VẬT CÓ LỢI TRONG ĐẤT

     * Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật sống trong đất và xung quanh vùng rễ cây có ý nghĩa rất quan trọng trong mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phân bón. Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật (mùn hóa, khoáng hóa chất hữu cơ, phân giải các hợp chất khó hấp thu cho cây, tổng hợp các chất điều hòa sinh trưởng thực vật, tạo sự cân bằng sinh học trong đất…).

     * Ngoài ra, chúng còn giúp kiểm soát các quá trình sinh học trong đất rất tốt như giúp cây trồng kháng với một số loại nấm bệnh gây hại cho cây trồng (như Phytophthora, Fusarium, Pythium, Sclerotium…), kích thích hệ rễ phát triển, thúc đẩy quá trình mùn hóa… 

      – Nhóm vi khuẩn (Bacillus, Lactobacillus…): tạo ra hệ enzyme đa dạng giúp phân giải các hợp chất hữu cơ, Cadimi, Paclo… trong đất, thúc đẩy quá trình mùn hóa đồng thời tiêu diệt mầm bệnh trong đất (tuyến trùng).

      – Nhóm nấm mốc (Trichoderma, Aspergillus…): tạo các hợp chất thứ cấp (chất đều hòa sinh trưởng thực vật) kích thích hệ rễ cây trồng phát triển, đối kháng với các loại nấm bệnh hại cây trồng. Cùng với nhóm vi khuẩn thúc đẩy quá trình phân hủy xác bã thực vật, phân giải các hợp chất lân khó tan.

      – Nhóm xạ khuẩn (Streptomyces, Actinomyces…): có khả năng phân hủy nhanh các hợp chất hữu cơ giàu cellulose, tạo kháng sinh tiêu diệt các loại nấm bệnh hại cây trồng.

     * Sự cộng sinh của các nhóm vi sinh vật hữu hiệu này giúp cân bằng các quá trình sinh học trong đất (như các quá trình chuyển hóa vô cơ và hữu cơ), kiểm soát quá trình sinh học (ức chế sự phát triển của mần bệnh), tạo ra các hợp chất thứ cấp giúp cây trồng phát triển tốt và ổn định môi trường đất trong thời gian dài. *** Vì vậy, việc tuyển chọn và bổ sung các loài vi sinh vật hữu hiệu, bao gồm vi khuẩn (Bacillus, Lactobacillus…); nấm mốc (Trichoderma, Aspergillus…); xạ khuẩn (Streptomyces, Actinomyces…) là rất cần thiết

CHẾ PHẨM HỮU CƠ SINH HỌC VI SINH VOLVO VE12 – SUPER VI SINH

*THÀNH PHẦN:

– Chất hữu cơ: 5%

– VSV: Trichoderma sp; Bacillus subtilis; Bacillus polymyxa;

Bacillus licheniformis; Lactobacillus sp; Aspergillus niger; Aspergillus oryzace; Aspergillus awamori: 1×106

– Tỷ trọng: 1.1;Tỉ lệ C/N: 12; pH: 6

* SẢN PHẨM CÓ BỔ SUNG: các vi sinh đặc chủng và các men sinh học đặc biệt

*CHUYÊN DÙNG:

– Phân hủy Cadimi và Paclo trong đất.

– Giải độc hữu cơ, độc hóa học, độc do nước mặn, phèn,…

– Ủ phân chuồng, oai mục xác bã động vật, thực vật.

– Tăng khả năng hấp thu phân bón cho cây trồng thêm 30%.

– Săn bắt và ức chế sự phát sinh, phát triển của Tuyến trùng, Phytopthora, Fusarium, Pythium, Sclerotium và các loài nấm bệnh hại khác.

– Giúp ngăn ngăn ngừa hiệu quả các bệnh: nứt thân xì mủ, thối lở cổ rễ, vàng lá thối rễ, cháy lá rụng lá, chết nhanh chết chậm, bướu rễ, héo xanh, sương mai,  panama,…

– Hỗ trợ phục hồi nhanh các cây con còi cọc chậm lớn, cây bị suy kiệt, cây sau thu hoạch, cây bị cháy lá,… 

CÁCH SỬ DỤNG ĐẠT HIỆU QUẢ CAO
  STT  MỤC ĐÍCH
SỬ DỤNG  
  LIỀU LƯỢNG  ĐỊNH KỲ
  1Ủ phân chuồngPha can 5 lít với 500-1.000 lít nước, ủ cho 5-7 tấnTưới 2 lần cách nhau 10-15 ngày là sử dụng được
  2Ngừa bệnh, Phân hủy xác bã thực vật dưới gốc cây-Pha can 5 lít với 3.000-5000 lít nước -Tưới ướt đẫm vùng rễ dưới tán lá cây.    15-20 ngày / lần ở mọi giai đoạn
  3  Xử lý bệnh, Phục hồi cây-Pha can 5 lít với 1.500-2.000 lít nước -Tưới ướt đẫm vùng rễ dưới tán lá cây hoặc phun trực tiếp vào vết bệnh  5-7 ngày / lần Dùng 2-3 lần liên tục
  4Phối trộn với phân NPK hoặc phân hữu cơ nở để bón trực tiếpPhối trộn 1 can 5 lít với lượng phân đủ bón cho 2.500 – 3.000 m2 đất trồng.  Kết hợp theo mỗi lần bón phân cho cây trồng.
  HIỆU QUẢ CAO HƠN KHI DÙNG Ở LIỀU LƯỢNG ĐẬM ĐẶC HƠN  

Phó Thủ tướng: Cần có giải pháp sống chung với hạn mặn

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà lưu ý các địa phương ĐBSCL cần rút ra các bài học kinh nghiệm trong phòng chống hạn mặn cũng như giải pháp chủ động sống chung lâu dài.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 7/4, tại tỉnh Tiền Giang, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan và Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Đặng Quốc Khánh chủ trì cuộc họp trực tuyến với 8 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL về công tác này.

Kiến nghị khép kín hệ thống thủy lợi

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cho biết, thời gian qua, các cơ quan thông tấn báo chí rất quan tâm, trách nhiệm phản ánh vấn đề hạn mặn ở ĐBSCL, đặc biệt là ảnh hưởng của hạn mặn đến đời sống người dân. Tại tỉnh Tiền Giang, lãnh đạo địa phương hết sức chủ động, tinh thần là từ sớm từ xa để đưa ra công bố tình huống, thông tin dự báo, giải pháp.

Qua kiểm tra và ghi nhận thực tế ý kiến của người dân tại một số địa bàn, nhất là khu vực khó khăn, vùng hoàn toàn sống trong điều kiện mặn của tỉnh Tiền Giang, Phó Thủ tướng đánh giá, việc cung cấp nước cho người dân đang được duy trì tốt, việc thiếu nước chỉ xảy ra vào một số thời điểm và mang tính cục bộ ở một số khu vực.

Riêng các hệ thống cấp nước của Nhà nước hoặc hệ thống kết hợp đầu tư công tư, tỉnh Tiền Giang đã bố trí hệ thống cấp nước tập trung cũng như thực hiện nhiều giải pháp huy động các lực lượng để mang nước đến tận nhà cho những người cao tuổi.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh, Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang, cho biết, hiện nay tỉnh có vùng chuyên canh cây ăn trái khoảng 84 ngàn ha; trong đó có nhiều chủng loại có giá trị cao như sầu riêng, thanh long, mít… chủ yếu tập trung tại các huyện phía Tây với diện tích hơn 70 ngàn ha. Vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hạn mặn phía Nam quốc lộ 1A khoảng hơn 36 ngàn ha.

Bên cạnh 6 cống trên đường tỉnh 864 được đầu tư và cống âu Nguyễn Tấn Thành chuẩn bị hoàn thành, tỉnh cũng kiến nghị Bộ NN-PTNT quan tâm đầu tư xây dựng thêm 3 cống: Trà Tân, Ba Rài và Phú An với kinh phí khoảng 887 tỷ đồng khép kín vùng dự án Bảo Định nhằm mở rộng diện tích bảo vệ khoảng 130 nghìn ha. Đồng thời kiến nghị trung ương nâng cấp mở rộng ao chứa nước Phú Thạnh 10ha và ao Tân Thới 6ha để phục vụ người dân huyện Tân Phú Đông. Nâng cấp mở rộng ao Gia Thuận 10ha, ao Bình Thành 30ha, ao Gò Dừa 15ha, kinh phí dự kiến khoảng 300 tỷ đồng để phục vụ cho người dân vùng Gò Công Đông, Gò Công Tây và thị xã Gò Công.

ối với tỉnh Sóc Trăng, ông Trần Văn Lâu, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng kiến nghị Chính phủ, Bộ NN-PTNT đầu tư thêm một số công trình thủy lợi. Cụ thể địa phương đã được Bộ NN-PTNT đầu tư một âu thuyền Rạch Mọp và 5 cống thủy lợi trên tuyến quốc lộ Nam Sông Hậu, tuy nhiên hiện còn 7 cống trên tuyến quốc lộ này có nhu cầu xây dựng mới. Bên cạnh đó 14 cống trên tuyến quản lộ Phụng Hiệp cũng cần được xây dựng để bảo vệ trên 100.000ha đất sản xuất vùng trũng.

Còn tại Cà Mau, Kiên Giang ảnh hưởng của hạn mặn chủ yếu là sụt lún và sạt lở. Tại Kiên Giang, thiệt hại do nắng hạn gây ra chủ yếu tại Kiên Giang là tình hình sụt lún, sạt lở đất gây thiệt hại nghiêm trọng các tuyến đường giao thông trong vùng đệm Vườn quốc gia U Minh Thượng, huyện U Minh Thượng.

Đến nay, đã xảy ra 323 điểm sạt lở, sụt lún đất, lộ giao thông nông thôn với tổng chiều dài hơn 8,7 km và làm sập 26 căn nhà ven kênh, rạch của người dân, ước tổng thiệt hại hơn 88,6 tỷ đồng. Nếu nắng hạn tiếp tục kéo dài thì số điểm sạt lở sẽ tăng thêm. Huyện đã thống kê có tổng số 434 căn nhà cất cặp mé kênh, trong đó có 54 căn có nguy cơ tiếp tục sụp đổ cao. Chính quyền địa phương đang thực hiện tuyên truyền, vận động, hỗ trợ người dân di dời.

Tuy nhiên, ông Lê Quốc Anh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang nhờ được đầu tư hệ thống thủy lợi, nhất là cụm công trình Cái Lớn – Cái Bé và vận hành hiệu quả các công trình nên đã giảm thiệu được thiệt hại.

Chủ động sống chung với hạn mặn

Lãnh đạo Bộ NN-PTNT, Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã chia sẻ những khó khăn mà vùng ĐBSCL đang chịu tác động của hạn mặn do mực nước thượng nguồn giảm, nắng nóng, dòng chảy của sông Mê Kông đã biến dạng hoàn toàn.

Thời gian tới, ngoài việc tiếp tục thực hiện các giải pháp công trình, phi công trình, các địa phương trong vùng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của từng hộ gia đình cùng tham gia phòng chống hạn mặn, sống chung với biến đổi khí hậu, tăng cường công tác trữ nước ở từng gia đình, có giải pháp tiết kiệm nguồn nước.

Đồng thời, cần gắn kết giữa nguồn nước và trồng trọt, quy hoạch lại dân cư trong không gian sống và sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu. Riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hoàn chỉnh dự án dữ liệu cấp quốc gia, tăng cường khâu dự báo, dự đoán để giúp chính quyền và người dân vùng ĐBSCL phòng chống thiên tai.

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan cho rằng phải có một chiến lược tổng thể hơn cho câu chuyện hạn mặn của ĐBSCL. Theo Bộ trưởng, câu chuyện của ĐBSCL chính là câu chuyện của nông nghiệp. Cần có nghiên cứu nhịp nhàng có sự gắn kết giữa ngành trồng trọt và thủy lợi để chủ động thích ứng hơn. Như trong trồng trọt cần quy hoạch lại mùa vụ.

“Thiệt hại lúa tại ĐBSCL, trong đợt hạn vừa rồi chúng tôi cũng phân tích chỗ nào mà xuống giống theo chỉ đạo của ngành nông nghiệp thì chỗ đó không bị thiệt hại. Chỗ nào do người dân thấy giá lúa lên cao hay ngành NN-PTNT không khuyến cáo thì chỗ đó bị thiệt hại. Đây là dẫn chứng cho thấy sự liên quan chặt chẽ giữa thủy lợi và trồng trọt”, Bộ trưởng nhấn mạnh. Do đó, Bộ NN-PTNT cũng sẽ đề nghị quản lý các cống điều tiết mặn ngọt theo hệ thống, quản lý liên vùng, theo khu vực chứ không nên cục bộ.  

Đặc biệt, Bộ trưởng cũng cho rằng cần thúc đẩy truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về thích ứng với biến đổi khí hậu. Bộ NN-PTNT cũng đang xây dựng dự án cấp nước sạch cho 30.000 hộ dân vùng khó khăn ở các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt các tỉnh ven biển, liên quan đến hạn mặn.

Phát biểu kết luận buổi làm việc với các địa phương vùng ĐBSCL, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà  ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của các tỉnh trong vùng đã chủ động có những giải pháp hữu hiệu ứng phó với hạn mặn nên đến thời điểm này chưa gay gắt như năm 2019-2020 và chưa gây thiệt hại nào nghiêm trọng cho sản xuất, kinh doanh, nước sinh hoạt có khan hiếm cục bộ, nhưng chính quyền các địa phương đã có phương án đồng bộ, kịp thời, giúp người dân giảm bớt khó khăn trong mùa khô hạn.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà lưu ý các địa phương vùng ĐBSCL cần rút ra các bài học kinh nghiệm trong công tác phòng chống hạn mặn, đánh giá lại nguồn nước ngầm, có giải pháp chủ động sống chung hạn mặn theo từng địa bàn, khép kín các hệ thống thủy lợi, triển khai thực hiện Luật Tài nguyên nước sắp có hiệu lực.

Nguồn: https://nongnghiep.vn/